Đôi nét về chủ nhân mới của giải Nobel Hoá học: Giáo sư người Nhật Yoshino Akira

  • Tin tức
  • Những ngày vừa qua, báo chí trong và ngoài nước Nhật liên tục đưa tin về một giáo sư người Nhật có tên Yoshino Akira giành giải Nobel Hoá học danh giá, đóng góp vào niềm tự hào của người Nhật và nối dài thêm danh sách các nhà khoa học Nhật Bản được toàn thế giới công nhận bằng giải Nobel. Đây không phải là lần đầu tiên người Nhật nhận được giải Nobel, nhưng vì sao giáo sư Yoshino Akira lại được công chúng hân hoan ngưỡng mộ như vậy, mời bạn đọc bài viết này nhé!

    Sơ lược về giải thưởng Nobel Hoá học

    Giải Nobel Hóa học do Quỹ Nobel quản lý và được trao bởi ủy ban gồm năm thành viên được lựa chọn từ Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển. Đây là một trong năm giải Nobel do Alfred Nobel thành lập vào năm 1895 trao cho các lĩnh vực Vật lý, Văn học, Hòa bình, cùng Sinh lý học và Y khoa từ năm 1901. Từ năm 1901 tới năm 2019, Ủy ban Nobel đã trao tặng 110 giải Nobel Hóa học cho 184 nhà khoa học trên khắp thế giới.

    Đến nay, tổng cộng 8 nhà khoa học Nhật Bản đạt được giải thưởng này, trên tổng số 28 nhà khoa học Nhật Bản đạt giải Nobel trên mọi lĩnh vực. Xét về tuổi tác, người đoạt giải Nobel Hóa học trẻ nhất là Koichi Tanaka vào năm 2002 khi 43 tuổi. Người lớn tuổi nhất là Shimomura Osamu, ông nhận giải vào năm 2008 khi 80 tuổi.

    Công trình nghiên cứu đạt giải Nobel Hoá học của Giáo sư Yoshino Akira

    Công trình đoạt giải của Giáo sư Yoshino Akira được nghiên cứu cùng với Giáo sư người Mỹ John B. Goodenough và Giáo sư người Anh M. Stanley Whittingham, là phát triển pin lithium-ion. Ban đầu, ông không nhắm đến việc phát triển một loại pin mới. Trong quá trình nghiên cứu, ông đã tìm ra “một loại vật liệu mới có thể làm cực âm của pin điện” có tên gọi là “polyacetylen (PA) điện dẫn”. Từ đó ông đã liên tục thí nghiệm và phát triển loại pin lithium-ion cải tiến, có kích thước nhỏ gọn và trọng lượng nhẹ hơn nhưng chứa năng lượng cao cho phép sử dụng rộng rãi không chỉ trong các thiết bị công nghệ thông tin như điện thoại thông minh v.v. mà còn có thể sử dụng cho thiết bị điện lớn hơn như xe điện v.v. Phát kiến này đồng thời có thể hỗ trợ phát triển và ứng dụng các loại năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời.

    Sở dĩ công trình nghiên cứu của ông được đón nhận và bản thân ông trở thành nhân vật được công chúng yêu mến vì loại pin lithium-ion cải tiến sẽ tạo ra bước nhảy vọt cho ngành công nghệ thông tin, đặc biệt là các thiết bị điện tử di động như điện thoại, máy tính bảng, máy chơi game cầm tay v.v., hứa hẹn sẽ trình làng những sản phẩm công nghệ cao với thời lượng pin dài hơn, nhờ đó cách mạng hoá cuộc sống tiện lợi hơn. Loại pin này cũng giúp giảm thiểu những tác động xấu của việc xử lý pin có dòng đời ngắn đến môi trường, nhờ loại pin có năng suất lẫn tuổi thọ cao hơn được áp dụng rộng rãi trong tương lai.

    Tiểu sử của Giáo sư Yoshino Akira

    Giáo sư Yoshino Akira là thành viên danh dự của tập đoàn Asahi Kasei trong 17 năm. Ông sinh tháng 1 năm 1948 tại thành phố Suita, tỉnh Osaka. Năm 1972, ông hoàn thành chương trình thạc sĩ tại Đại học Kyoto và gia nhập Asahi Kasei. Năm 1992, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc phát triển sản phẩm của tập đoàn, chú trọng phát triển công nghệ pin và vật liệu pin. Ông cũng là chủ tịch Trung tâm nghiên cứu vật liệu pin lithium-ion, chủ tịch Hiệp hội nghiên cứu kỹ thuật, đồng thời là giáo sư của Đại học Meijo và giáo sư thỉnh giảng của Đại học Kyushu. Trước giải Nobel Hoá học, ông đã nhận được nhiều giải thưởng danh dự trong và ngoài nước.

    Nhật Bản trên bản đồ Nobel thế giới


    Nhật Bản là quốc gia châu Á có nhiều người đạt giải Nobel nhất, trên tổng số 70 nhà khoa học châu Á được giải Nobel vinh danh thì có đến gần một nửa là người Nhật Bản. Đặc biệt, chỉ trong 15 năm 2000-2014 có 13 người Nhật được trao giải Nobel; xếp thứ ba sau Mỹ (71 người) và Anh (12 người, ít hơn Nhật về số người nhưng nhiều hơn về tỷ lệ hưởng tiền thưởng). Đáng chú ý là có ba nhà khoa học một mình thực hiện nghiên cứu độc lập và giành trọn giải Nobel Khoa học: giải Vật lý 1949 (ông Hideki Yukawa), giải Y học 1987 (ông Susumi Tonegawa) và giải Y học 2016 (ông Shinori Ohsumi).

    Sở dĩ ngày nay có nhiều nhà khoa học Nhật được trao giải Nobel, là do ngay từ xa xưa họ đã bỏ công sức tích lũy kiến thức khoa học và nuôi dưỡng tinh thần đam mê nghiên cứu và phát kiến. Sau Thế chiến II, chính phủ Nhật Bản đã lập ra Hội Chấn hưng Khoa học Nhật Bản (JSPS, Japan Society for the Promotion of Science) chuyên trách soạn thảo, ấn định các dự án nghiên cứu khoa học kỹ thuật, đồng thời chú trọng đầu tư cho các dự án nghiên cứu. Mặc dù những năm gần đây, nguồn tài trợ cho nghiên cứu có giảm do tình hình kinh tế, nhưng thành quả mà Nhật Bản đạt được vẫn xứng đáng là “nói đi đôi với làm”, và Nhật Bản càng khẳng định rõ ràng hơn tên mình trên bản đồ nghiên cứu khoa học thế giới.

    Người Nhật, đặc biệt là giới trẻ cũng coi các nhà khoa học đạt giải Nobel là thần tượng của mình. Các nhà khoa học nổi tiếng đều được đưa vào sách giáo khoa và chương trình giảng dạy các cấp. Thậm chí, tờ tiền 1000 yên Nhật cũng in hình Noguchi Hideyo – nhà sinh vật học nổi tiếng nước Nhật (1876-1928), đủ thấy cả nước Nhật coi trọng và tôn vinh nghiên cứu và người nghiên cứu khoa học như thế nào.

    Hình ảnh đại diện: photo-ac.com